Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2009

Tàu điện ở Nhật

Cuộc sống ở Nhật Bản không thể không kể đến tàu điện, phương tiện thông dụng nhất của người dân Nhật Bản. Tàu điện phổ biến nhất trong các loại phương tiện giao thông ở Nhật Bản bởi nó rẻ mà lại tiện lợi nhất. Tàu điện ở Nhật gồm loại tàu thường và tàu cao tốc. Tàu thường hay còn gọi là tàu Local thường đỗ tại các ga mà nó chạy qua. Khoảng cách các ga trong thành phố chỉ cách nhau khoảng 1km và ngoại ô là khoảng 2,3 km. Tàu nhanh và tàu cao tốc thường chỉ dừng lại ở các ga lớn, tiết kiệm thời gian cho những người đi xa, đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của người dân Nhật Bản.


Ga Tokyo

Tàu siêu tốc Sinkansen là tàu chạy nhanh nhất trong các tàu thương mại. Vận tốc của tàu Shinkansen là khoảng 300Km/h. Ngồi bên trong hành khách sẽ có cảm giác tai bị ù do tốc độ của tàu khá lớn. Do vận tốc cao nên giá cả của tàu Shinkansen cũng không thua kém vé máy bay, nhưng để đáp ứng nhu cầu tiết kiệm thời gian đi lại, Shinkansen vẫn là một phương tiện. được ưa chuộng với người dân Nhật Bản đặc biệt là tầng lớp thương gia.


Tàu siêu tốc Shinkansen

Trong tàu điện luôn bố trí máy lạnh vào mùa hè và máy sưởi vào mùa đông, vì vậy cho dù thời tiết có khắc nghiệt đến đâu, bạn vẫn có thể yên tâm khi lên tàu điện ở Nhật Bản. Hai bên tàu điện luôn có các bảng điện tử chỉ dẫn khi đến các ga khác nhau, tiện lợi cho hành khách trong việc tra cứu lộ trình đi của mình.

Tàu điện ở Nhật “cứng nhắc” y như người Nhật về cách bảo đảm giờ giấc luôn chính xác. Tàu chỉ bị trậm trễ hoặc đình trệ trong trường hợp bất thường xảy ra, và trong các trường hợp đó, nhân viên nhà ga sẽ luôn phát thanh xin lỗi hành khách. Nếu lần đầu đến Nhật và lên thử tàu điện ở Nhật, chắc hẳn bạn sẽ thấy hài lòng với phương tiện đi lại thuận tiện này.



Tàu điện ở Nhật

Khi lên tàu điện ở Nhật, mọi người đều xếp thành hai hàng và không được phép chen ngang. Khi tàu điện đến, những người lên tàu đứng nép vào hai bên nhường cho người xuống tàu xuống hết mới lên tàu. Đó được coi là Văn hóa khi đi tàu điện của người Nhật.

Tàu điện vào giờ cao điểm rất đông, đông đến nỗi giống như một cái hộp nhồi nhét đầy người. Đứng ở trong đó, bạn có thể bị chen lấn đến không thở nổi, nhưng đó dường như là chuyện bình thường ở Nhật, không ai tức giận hay có thái độ khó chịu cả.


Tàu điện ở Nhật vào giờ cao điểm

Khi lên tàu điện ở Nhật, bạn sẽ thấy người Nhật sử dụng thời gian trên tàu như thế nào. Phần lớn là họ tranh thủ ngủ. Nhất là khi đi tàu điện vào giờ “buồn ngủ” như sáng sớm thì hầu hết mọi người đều tranh thủ thời gian để “ngủ”. Trông họ có vẻ ngủ rất say nhưng vẫn nghe thông báo ga đến và xuống đúng ga.


Ngủ gật trên tàu điện

Hiện tượng thứ hai cũng rất phổ biến, đó là gửi tin nhắn bằng điện thoại di động. Người Nhật rất biết giữ ý là trên tàu điện thường tránh nghe điện thoại vì nó ảnh hưởng đến những người xung quanh. Thế nên phương tiện thông tin không mấy ảnh hưởng đó là gửi tin nhắn bằng điện thoại được người Nhật tận dụng một cách triệt để. Nhiều khi đứng trên tàu nhìn cảnh ai cũng chăm chăm vào cái điện thoại cũng hết sức thú vị.


Nhắn tin trên tàu điện

Ngoài ra, thời gian trên tàu điện còn được người Nhật sử dụng để tranh thủ đọc sách, báo, trang điểm, thậm chí nhiều doanh nhân còn mang máy tính xách tay để làm việc, tận dụng thời gian rỗi trên tàu.


Trang điểm trên tàu điện

Tàu điện ở Nhật không chỉ là đặc trưng của sự phát triển công nghệ của nuớc Nhật, mà còn là nơi bạn có thể quan sát tổng thể văn hóa hiện đại và thói quen sống của người dân Nhật Bản. Nếu muốn tìm hiểu văn hóa Nhật Bản, hãy lên tàu điện và quan sát – chỉ với một khoảng thời gian ngắn thôi, bạn vẫn có thể hiểu ra nhiều điều về Nhật Bản đấy.

Ở Nhật, khi mua vé tàu bạn không phải mất công tới quầy bán vé mà tại tất cả các nhà Ga máy bán vé tự động cùng với bản đồ tàu chạy được bố chí tại các điển thuận tiện nhất cho người người mua vé, phương thức mua vé bạn chỉ cần đưa tiền(tiền xu và tiền giấy đều được) vào máy bán vé tự động và chị cần nhìn bản đồ vị trí bạn đến đề giá bao nhiều rồi bấn vào số tiền đó trên màn hình ngay lập tức vé tương ứng với số tiền đó sẽ được đưa ra cho bạn. Điểm đáng nói ở đây là những chiếc máy này dù bạn có đưa tờ tiền chị giá cao thì máy cũng sẽ tự động trả lại tiền cho bạn đủ không thiếu một yên nào cả.

Máy bán vé tự động
Máy được bố chị rất nhiều nên ít khi bạn phải xếp hàng đợi

Nhiệm vụ của người nhân viên nhà ga là gì? Họ giải quyết những vấn để chung như cung cấp thông tin, chỉ dẫn, kiểm soát, giải quyết những vấn đề mà khách hàng yêu cầu...

Trong trường hợp bạn mua nhầm vé, bạn có thể gặp nhân viên nhà Ga họ sẽ hủy vé và trả lại tiền cho bạn. Nếu bạn mua vé nhầm, số tiền ít hơn so với số tiền nơi bạn cần đến thì bạn cũng không phải lo, bạn cứ lên tàu và đi, khi đến nơi bạn chị cần tới gặp nhân viên phòng vé tại khu vực soát vé và trả họ số tiền bạn còn thiều là bạn có thể rời khỏi nhà Ga được.

Khi Bạn vào hoặc rời khỏi nhà Ga bạn phải đi qua một hệ thống máy soát vé tự động bằng cách đưa vé vào khe kiểm tra vé của máy, nếu vé hợp lệ 2 cánh của chắn của máy sẽ mở và bạn có thể ra hoặc vào. Nếu không hợp lệ 2 cánh cửa sẽ không mở và máy kêu và phát tín hiệu đến phòng an ninh được đặt bên cạch hệ thống máy soát vé.

Hệ thống máy soát vé tự động

Người viết: Phan Thanh An
Du học sinh tại Nhật Bản

Phương pháp học chữ Kanji

http://www.ispeakjapanese.net/wp-content/uploads/2008/12/kanji-characters.gif



















Sau đây là một số điểm cần lưu ý để việc học chữ 漢字 để đạt kết quả tốt hơn

I. Cấu trúc chữ 漢字 .

Chữ 漢字 hầu hết được tạo thành từ 2 phần:

1. Phần bộ ( chỉ ý nghĩa của chữ )
2. Phần âm ( chỉ âm đọc gần đúng của chữ )

Phần bộ: Chỉ ý nghĩa của chữ.

Thí dụ: các chữ có liên quan tới con người đều có bộ Nhân, liên quan tới nước có bộ Thủy, tới cây có bộ Mộc, tới lời nói có bộ Ngôn…Bộ thường được viết bên trái như bộ Nhân Đứng イ trong chữ Trú 住 . Hoặc bên phải như bộ Đao刂 trong chữ Phẩu 剖( dùng để giải phẩu ) hoặc phía trên như bộ Thảo trong chữ Dược 薬 ( Vì thuốc ngày xưa chủ yếu từ cây cỏ ), hoặc dưới như bộ Tâm心 trong chữ Cảm 感( con tim cảm nhận )...


Việc nhận định hình thù và vị trí viết của các bộ hơi khó đối với người mới học, nhưng nếu đã học qua 1 lần có thể nhớ ra ngay, và như vậy mỗi chữ 漢字 chỉ cần nhớ phân nửa chữ còn lại ( phần chỉ âm ) là xong và 漢字 sẽ thấy đơn giản còn phân nửa.

Phần chỉ âm: cạnh “ Bộ “ là phần chỉ âm đọc của chữ. Có thể ở đây người ta đã căn cứ theo âm đọc của người Hoa, khi chuyển sang âm Việt, âm này không còn chính xác nữa. Tuy nhiên có thể nhận biết quy tắc này trong 1 số chữ:

Thí dụ: 白Bạch ( trắng ), 百Bách ( Trăm ), 伯Bá ( Chú bác ), 拍Phách ( nhịp ),泊 Bạc ( phiêu bạc ), 迫Bách ( thúc bách ).

Thí dụ vừa kể có nhiều, song không phải là tất cả, nó không giúp chúng ta quyết định từng chữ phải viết như thế nào, nhưng khi thấy nó, ta có thể phần nào đoán được âm đọc ( một phần có thể đoán từ ý nghĩa của phần “ Bộ “, và ký ức của mình về các từ liên quan ).

3. Các đặc điểm khác về cấu trúc:

Chữ 漢字 trông rất phức tạp vì gồm nhiều nét, ngang dọc lung tung, rất khó nhớ. Tuy nhiên, mỗi chữ đều hình thành từ nhiều bộ phận, từ nhiều chữ đơn giản. Tựa như chữ Trường trong Việt ngữ do chữ t, r, ư, ơ, n, g và dấu huyền hợp thành, chữ 漢字 cũng vậy, như chữ Phúc福 gồm bộ Thịネ, chữ Nhất一, chữ Khẩuロ, chữ Điền田. Do vậy, để nhớ ta phải phân tích nó ra, hay nói ra hơn phải đánh vần nó, như trường hợp chữ Phúc sẽ đánh vần tựa như sau: Bộ Thị, Nhất, Khẩu, Điền ( tất nhiên phải đánh vần theo thứ tự Viết ). Như vậy sẽ dễ nhớ hơn. 

4. Chữ 漢字 do nhiều bộ phận nhiều chữ đơn giản hợp lại, để diễn đạt thành 1 ý, do đó các thành phần của nó cũng giúp ta suy nghĩ ra ý tưởng của chữ.

Thí dụ: chữ Nam男 gồm bộ Điền 田cộng với Lực力, nghĩa là người làm việc chính trên đồng ruộng, hay chữ Dũng勇 gồm chữマ, chữ Nam男, chữ Liệt 劣gồm chữ Thiểu 少và bộ Lực力, nghĩa là thiếu sức. Điểm này không hoàn toàn đúng với mọi mặt chữ, nhưng có thể dùng nó để đặt thành những câu vè để dễ nhớ.

Thí dụ: chữ Nỗ 努gồm chữ Nô 奴và chữ Lực 力nghĩa là Nỗ lực như người nô lệ.

Tóm lại, khi học 漢字 nên lưu ý tới sự tồn tại của các Bộ và sự kết hợp của các chữ đơn giản, các chữ có cấu trúc giống nhau thường có âm đọc gần giống nhau, hay ý nghĩa của chữ đôi khi có thể suy luận từ các bộ phận cấu thành.

II. Cách nhớ mặt chữ

Ngoài cách nhớ nói trên ( bộ, và các chữ đơn giản ghép thành ) cũng nên biết các nguyên tắc sau đây:
1. Chữ 漢字 rất dễ quên, cần xem lại thường xuyên ( nếu được nên xem lại mỗi ngày ).
2. Thay vì dùng nhiều thời gian để học một chữ, nên học lướt qua chữ đó nhiều lần ( mỗi chữ chỉ nên học 1, 2 giây, nhưng nên nhìn lại hàng trăm lần tại các thời điểm khác nhau ).

III. Cách viết

Chữ 漢字 được viết theo thứ tự: “Trái trước phải sau, trên trước dưới sau, ngang trước sổsau”.
Thí dụ: Chữ Hiệu校. Ta phải viết bộ Mộc trước vì nó nằm ở bên trái ( gồm 1 nét ngang, 1 nét sổ thẳng, 2 nét phẩy 2 bên ) rồi tới chữ đầu ( gồm 1 chấm, 1 ngang ) và chữ Giao ( gồm chữ Bát và 2 nét phẩy đè lên nhau ).

Cũng có người viết không tuân thủ 100% quy tắc trên, mà viết theo sự thuận tay. Tuy nhiên đối với người mới học, nên tuân thủ nguyên tắc trên là tốt nhất.

TÓM LẠI:

1. Trong sách chữ 漢字 được xếp theo bộ vì người Việt có thể hiểu được nghĩa phần lớn các chữ 漢字 ( dẫu không nhận mặt chữ được hay viết được ). nhưng có thể nhớ được Bộ của từng chữ. Chỉ phải học phần còn lại ngoài Bộ mà thôi.

2. Tên gọi và hình thù các bộ được liệt kê trong bảng kê các bộ, khi mới học không cần nhớ ngay bảng này, mà chỉ dùng nó để tra cứu, mỗi khi quên tên gọi của Bộ.

3. Chỉ nên học viết sau khi đã thuộc kỹ mặt chữ, thuộc tới mức có thể nhắm mắt lại tưởng tượng ra hình dạng của nó ( theo thứ tự đánh vần ). Khi đó hãy cố tưởng tượng vẽ lại hình dạng đã tưởng tượng. Nếu vẽ ( hay viết ) đúng, có nghĩa là ta đã thuộc được chữ. Nếu sai, xem xét lại chỗ nào, viết lại lần nữa, và lần này chắc chắn sẽ không còn sai. Tóm lại, chỉ cần tập viết khoảng 2 lần là đủ.

4. Nhưng điểm then chốt nhất vẫn là chuyện phải thường xuyên xem lại các chữ đã học, vì chúng rất dễ quên.

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2009

Học Tiếng Nhật khó hay dễ?

Active ImagePhải công nhận rằng, tiếng Nhật được xếp vào hàng những ngôn ngữ khó học, ngay cả các chuyên gia vê ngôn ngữ cũng phải thừa nhận điều này.

Dưới đây là những câu hỏi và câu trả lời về những đặc điểm của loại ngôn ngữ này:

Một trong số những giáo trình tiếng Nhật được sử dụng rộng rãi

Có bao nhiêu người nói tiếng Nhật hoặc đang theo học tiếng Nhật ở Nhật Bản?

Tiếng Nhật là ngôn ngữ phổ thông của Nhật Bản, và gần như tất cả 128 triệu người bản ngữ sử dụng loại ngôn ngữ này. Mặc dù, vẫn còn một số vùng ở Nhật Bản nói tiếng địa phương, nhưng rất hiếm. Theo như giáo sư Ken Machida đến từ khoa ngôn ngữ học trường Đại học Nagoya, có khoảng 6000 đến 7000 loại ngôn ngữ trên toàn thế giới ngày nay và nếu chia ra thì mỗi nước có đến 30 loại ngôn ngữ được sử dụng.

Ngoài những người bản địa, có 135.514 người đang học và nghiên cứu tiếng Nhật tại 2047 viện ngôn ngữ ở Nhật Bản tính từ tháng 11 năm 2005, theo số liệu do cơ quan giao lưu Văn hóa cung cấp. Trong số đó, 77,1% là người Châu Á, tiếp đó là 4,6% là người Bắc Mỹ, 3,7% là Nam Mỹ và 3,6% là người Châu Âu.

Vậy còn tình hình tiếng Nhật trên thế giới?


Theo số liệu báo cáo năm 2006, trên thế giới hiện có 2,98 triệu người ở 133 quốc gia đang theoh ọc tiếng Nhật tại 13.639 viên, tức là tăng 26,4% so với năm 2003. Đó là chưa kể những người tự học và nghiên cứu tiếng Nhật tại nhà. Hàn Quốc chiếm số lượng lớn trong số những người học tiếng Nhật (30,6% trong tổng số người nước ngoài học tiếng Nhật). Xếp sau Hàn Quốc là Trung quốc với 23%, Úc là 12,3%, Indonesia 9,2%, Đài Loan 6,4% và Mỹ là 4%.

Liệu tiếng Nhật có khó học không?

Trái hẳn với quan niệm của nhiều người, các nhà ngôn ngữ học đều nói rằng, tiếng Nhật rất dễ nói nếu so sánh với các ngôn ngữ khác. Một phần vì tiếng Nhật chỉ có 5 nguyên âm và 13 phụ âm. Trong khi đó, tiếng Anh có những 12 nguyên âm và 24 phụ âm. Theo như giáo sư Machida, động từ của tiếng Nhật cũng tuân theo những quy tắc thông thường, không giống tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Hilạp. Giáo sư Machida đã viết trong cuốn "Gengo Sekai Chizu" (Bản đồ ngôn ngữ thế giới) của mình xuất bản hồi tháng 5 rằng "Nhìn chung, tiếng Nhật là ngôn ngữ rất dễ học, vì động từ trong tiếng Nhật không có nhiều cách chia."

Học viết tiếng Nhật có khó không?

Các chuyên gia cũng phải thừa nhận rằng để học viết được chữ tiếng Nhật quả thực rất nhiều gian nan, hệ thống chứ viết của Nhật nằm trong số những loại chữ phức tạp nhất vì đó là sự kết hợp của 5 hệ thống chữ viết: Kanji, hiragana, katakana, Ảrập và Romanji.



Hai bảng chữ cái hiragana, katakana của Nhật Bản

"Tôi cho rằng hiếm có nước nào mà lại có hệ thống chữ cái phức tạp đến vậy" một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng thế giới đã viết như vậyt rong cuốn sách của mình xuất bản năm 1991. Từ khi nào hệ thống chữ Kanji du nhập vào Nhật Bản, và chữ hiragana và katakana có nguồn gốc như thế nào? Không có hệ thống chữ viết Nhật Bản gốc nào được biết tới trước khi chữ Trung Quốc du nhập vào Nhật Bản thế kỷ thứ IV. Những âm tiết hiragana giống như những nét vẽ và xuất hiện vào thế kỷ IX, khi chữ Trung Quốc bắt đầu được sử dụng để mô tả các âm trong tiếng Nhật. Trong khi đó, chữ katakana lại được hình thành từ một phần của chữ Kanji. Hầu hết chữ kanji đều có hai cách phát âm, cách phát âm này phụ thuộc xem từ đó mô tả tiếng Nhật hay tiếng Trung Quốc.

Có bao nhiêu từ tiếng Nhật cần phải học để giao tiếp và đọc tiếng Nhật?

Theo như báo cáo từ Viện ngông ngữ Quốc gia Nhật Bản, các tạp chí hiện hành tiếng Nhật sử dụng khoảng 30.000 từ, nhưng 90% trong số đó lại được cấu thành từ 10.000 gốc từ. Tức là phải nắm được 10.000 gốc từ. Con số này lớn hơn gấp nhiều lần so với tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, chỉ cần nắm vững 3000 từ, tiếng Pháp 2000 từ. Trong từ điển bách khoa toàn thư cũng có giải thích rằng tiếng Nhật có một số lượng từ vựng tương đối lớn vì có rất nhiều từ vay mượn.

Tính cách đặc trưng một số vùng ở Nhật Bản

Ở khắp nơi trên thế giới, người ta vẫn thích nói về những thói quen của từng vùng miền của người dân bản địa. Nhật Bản cũng không phải là một ngoại lệ. Đất nước này được chia thành 47 khu vực theo cấp trung ương và địa phương. Chúng thường được gọi là ken, hay quận – nhưng là một dạng khác.Trong nhiều năm qua, một số cuốn sách đã mô tả tính cách đặc trưng của những con người ở mỗi địa phương. Ed Jacobs, người làm việc cho Japanzine, đã tập hợp thành một bài báo tiếng Anh, mô tả một số đặc trưng này. Tuy vẫn còn một vài thiếu sót và sai lệch, đây vẫn được coi là một bài viết thú vị. Dưới đây là tóm tắt những gì mà anh ấy thu lượm được, đã có bổ sung và sửa chữa.

Hokkaido

“Phụ nữ Hokkaido là những người tự do nhất Nhật Bản. Họ có thói quen khác thường là chủ động cầu hôn và cũng là người chủ động đề nghị li hôn. Không cần biết liệu người đàn ông hay người phụ nữ là người có lỗi trong cuộc hôn nhân nhưng Hokkaido vẫn là địa phương có tỉ lệ li hôn cao nhất cả nước”Một khả năng là: trước thế kỉ 19, dân Hokkaido không phải là người Nhật bản địa mà là người Âu Mỹ. Có thể do ảnh hưởng tâm lý của người Âu Mỹ, phụ nữ ở đây trở nên quyết đoán hơn.


Akita

“Nói “Akita bijin” (một vẻ đẹp Akita) với bất kì người đàn ông Nhật bản nào, bạn sẽ thấy đôi mắt anh ta rực sáng. Quan niệm cho rằng phụ nữ Akita rất đẹp có từ thời Heian. Phụ nữ nơi đây nổi tiếng với làn da trắng và hơi xanh xao của mình. Phụ nữ Akita có chỉ số trắng da đạt 29,6%, khiến cho da của họ có phần xanh hơn những phụ nữ Nhật khác vốn chỉ có chỉ số trắng da là 26,6%.

Thực tế là tôi thường được nghe nhiều lời tán dương về nước da của phụ nữ Hokkaido hơn là phụ nữ Akita. Một số người cho rằng thời tiết giá lạnh khiến cho người dân nơi đây phải có nhiều cách tự bảo vệ. (Họ bắt đầu mặc áo rét vào buổi đêm kể từ nửa sau của tháng 8). Hai tỉnh này nằm cạnh nhau nên họ có chung mùa đông khắc nghiệt.


Yamagata


Nếu bạn thích ngủ và ăn Ramen, ghét dây thắt an toàn thì đây chính là nơi dành cho bạn.

Ibaraki

Sự rập khuôn của cảnh sát Ibaraki không được liệt vào bài báo này. Một tỉ lệ lớn những người đàn ông ở Ibaraki chọn nghề nghiệp liên quan đến thi hành luật, đặc biệt tại Cơ quan Cảnh sát Quốc gia. Hình ảnh về cảnh sát Ibaraki cũng tương tự hình ảnh về cảnh sát Ai len tại New York ngày xưa.


Niigata

Chỉ 5% dân số Niigata tiếp tục theo đuổi con đường học vấn sau khi tốt nghiệp trung học, tỉ lệ thấp nhất trong các địa phương tại Nhật Bản, chỉ sau Okinawa. Người dân ở đây nổi tiếng với tình yêu với trò pachinko và đua ngựa


Trẻ, già đều mê Pachinko

Tochigi

Bạn ghét Karaoke ư? Vậy chớ lại gần Tochigi – karaoke là đam mê của họ.


Họ có thể đứng hát say mê trên hè phố như thế này

Saitama

“Saitama là New Jersey của Nhật Bản và thường được gọi là “Dasaitama” (Saitama ngớ ngẩn)”

Việc dịch nghĩa sai lệch này đã không truyền tải được hết cấu trúc tài tình của từ dasaitama. Dasai không có nghĩa là ngớ ngẩn – đây là tiếng lóng, có nghĩa là kém dễ thương, không hợp thời, hay thiếu hấp dẫn, và sau này nó gắn liền với tên của Saitama.


Việc gọi Saitama là New Jersey của Nhật Bản xuất phát từ việc Saitama nằm cạnh Tokyo cũng như New Jersey nằm cạnh New York và nhiều người Mỹ từ bờ biển phía đông vẫn thường nói những điều không hay về Garden State (nickname của New Jersey). Thái độ này hiện nay vẫn còn rất phổ biến!

Shizuoka


“Nếu bạn sống ở Shizuoka, khả năng bạn chết vì ung thư sẽ thấp hơn khi bạn sống ở những thành phố khác”


Tác giả không nói với chúng tôi lí do rằng: Shizuoka là địa phương trồng nhiều trà xanh nhất Nhật Bản. Người dân Shizuoka chọn trà xanh làm đồ uống hàng ngày. Bạn càng uống nhiều trà xanh, bạn càng ít có nguy cơ mắc các bệnh về ung thư.

Osaka


Jacobs viết rằng người Osaka là những người đi bộ nhanh nhất Nhật Bản, không tuân thủ luật lệ giao thông, vượt đèn vàng và thích tiêu tiền vào quần áo đẹp.

Thật kì lạ, anh ấy lại không đề cập việc Osaka nổi tiếng là một thành phố thương mại – khẩu hiệu quen thuộc ở đây là “Kiếm thêm chút tiền nữa không?” và họ không ưa Tokyo. (Anh ấy nói về việc ham kiếm tiền của người Osaka trong phần nói về Nara). Phụ nữ Osaka trẻ tuổi ham mê phim kinh dị, càng ghê rợn họ càng thích.



Fukuoka

“Mặc dù Fukuoka gần như một vùng nông thông nhưng nó chỉ xếp sau Osaka về tỉ lệ phạm tội”

Tác giả đã đúng về tỉ lệ phạm tội, nhưng rõ ràng là điều này chưa từng xảy ra ở Fukuoka

Dân số của Fukuoka vào khoảng 5 triệu người. Fukuoka có 2 thành phố với dân số hơn 1 triệu người. Thủ phủ là thành phố Fukuoka, nơi có 1,3 triệu người dân sinh sống. Thành phố láng giềng là Kitakyushu, 1,1 triệu dân. Đó là chưa tính những người dân sống ven 2 thành phố này. Ít nhất một nửa dân số của Fukuoka cũng sống ở những đô thị lớn.

Lí do của tỉ lệ phạm tội là sự tập trung sản xuất của ngành công nghiệp nặng tại vùng Kokura của Kitakyushu. Nhiều nhà máy lớn và các ống xả khói mọc lên nhanh chóng. Thực tế, quả bom nguyên tử thứ 2 rơi xuống Nhật bản là nhắm vào Kokura. Kokura đã may mắn vì hôm đó trời quá nhiều mây mù nên người điều khiển bom đã chuyển hướng nhắm vào đích thứ 2 là Nagasaki.

Các nhà máy ở Kokura hoạt động liên tục suốt ngày đêm, vì thế họ cần rất nhiều lao động thủ công phải thay ca liên tục. Việc bạn có sẵn sàng làm việc thâu đêm hay không còn quan trọng hơn cả bằng cấp và tính cách của bạn. Những người có thể thỏa mãn đặc điểm này thì thường không phải là công dân kiểu mẫu.

Nagasaki



Đây là góc phía tây nam của Kyushu, đối diện khu vực đất đai rộng lớn của châu Á, nơi đã đem lại sức mạnh cho Trung Hoa. Đây là nơi duy nhất ở Nhật Bản mà người nước ngoài có thể sinh sống suốt thời Edo (dẫu chỉ là phần đảo Dejima trước đây). Vì thế nó luôn cởi mở với thế giới bên ngoài. Một tỉ lệ lớn người dân ở đây là theo đạo Thiên chúa, 5%, so với 1% tổng số người theo đạo Thiên Chúa trên cả nước.

(Nguồn
ichinews.acc.vn)

Tháp Tokyo- biểu tượng của thành phố Tokyo Nhật Bản

Được đặt tại công viên Shiba, Minatoku, Tokyo, Nhật Bản, tháp Tokyo được xem là một trong những ngọn tháp có kết cấu thép tự đỡ cao nhất thế giới và là cấu trúc nhân tạo nổi tiếng nhất xứ sở Phù Tang. Nhìn Ngọn tháp này, hẳn các bạn sẽ liên tưởng ngay đến tháp Eiffel của thủ đô Paris, vì hai tháp trông khá là giống nhau. Nhưng trên thực tế, tháp Tokyo với chiều cao 332.6m lại cao hơn tháp Eiffel 8.6 m. và nó nhẹ hơn đến 3300 tấn – một con số đáng nể!

Tháp Tokyo còn là một thành viên của World Federation of Great Towers. Nó được xây dựng từ năm 1958 với kinh phí vào khoảng 2.8 tỉ yên, do tập đoàn xây dựng lâu đời nhất Nhật Bản –Takenaka- thiết kế và hoàn thành, do hãng truyền hình Nippon Television City Corporation điều hành và quản lý. Hiện có 9 kênh truyền hình và 5 đài phát thanh đặt tại ngọn tháp này.

Có thể nói, tháp Tokyo là một nơi tuyệt vời để chiêm ngưỡng toàn cảnh thủ đô của đất nước Nhật Bản xinh đẹp. Bên trong ngọn tháp được chia thành bốn tầng: Tầng thứ nhất là khu thuỷ cung với hơn 50 000 loài cá, một nhà hàng có sức chứa khoảng 400 khách và các cửa hàng lưu niệm. Tầng thứ hai chủ yếu phục vụ ăn uống, trong đó có khu thức ăn nhanh McDonalds và một nhà hàng Pizza, bên còn lại của tầng này là khu vực mua sắm. Tầng thứ ba như thường lệ vẫn luôn thu hút du khách với sự hiện diện của bảo tàng trưng bày các kỉ lục Guinness của thế giới và bảo tàng âm nhạc được xây dựng từ năm 1970.

Tầng thứ tư và cũng là tầng cuối cùng là khu triển lãm nghệ thuật, nơi trưng bày các tác phẩm nghệ thuật trừu tương mà khách tham quan có thể tự do chụp hình lưu niệm, và khu trò chơi điện tử giải trí. Khi lên tháp, điều đầu tiên mà mọi người thường làm là nhìn qua cửa sổ để có thể thấy toàn cảnh của thành phố, để có thể ngắm được cảnh mặt trời mọc cũng như khi mặt trời lặn, rất êm đềm, bình yên.


Khi hoàng hôn buông xuống, tháp Tokyo trông thật rực rỡ, choáng ngợp khi khoác trên mình 176 cây đèn thắp sáng cả thành phố. Đặc biệt hơn nữa, từ 2/10 đến 6/7, Tháp Tokyo trở nên huyền ảo với màu cam đẹp mắt, còn từ 7/7 đến 1/10, ta có thể chiêm ngưỡng một ngôi sao trắng sáng lấp lánh trên nền trời đen huyền. Lý do của sự thay đổi định kì này? Bởi người Nhật quan niệm rằng màu cam là màu ấm, nó sẽ mang lại sự ấm áp trong những tháng giá rét, ngược lại ánh sáng trắng như một cơn gió mát rượi trong những ngày hè oi ả.


Về lĩnh vực văn hoá, ngoài các tác phẩm của Clamp, tháp Tokyo rất hay được nhắc đến và xuất hiện nhiều lần trong các bộ truyện tranh nổi tiếng khác như Sailormoon, Tenchi Muyo hay Digimon, Doremon … thậm chí còn xuất hiện trong nhiều bộ phim điện ảnh xuất sắc nói về xứ sở Phù Tang xinh đẹp, nơi luôn có sự hài hoà giữa mới và cũ, giữa quá khứ và tương lai. Một biểu tượng của thành phố Tokyo, một biểu tượng của nền kiến trúc Nhật Bản, ta hoàn toàn có thể cảm nhận sự yêu mến đến nồng nàn của người dân nơi đây khi nói về niềm tự hào ấy của họ: Tháp Tokyo!



(Nguồn
ichinews.acc.vn)

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2009

Món Oden

Oden là món ăn cổ truyền của Nhật Bản, thích hợp khi ăn trong tiết trời rét và là món ăn rất phổ biến tại đất nước mặt trời mọc. Khởi đầu cách đây hơn 800 năm với cách chế biến đơn giản, hầm đậu phụ trong nước dùng, trải qua thời gian, công thức chế biến ngày càng phong phú đa dạng, mỗi vùng miền lại mang những đặc trưng riêng biệt.

Hiện nay, oden bao gồm 2 thành phần chính là nước dùng được nấu từ cá ngừ được bào nhỏ và rong biển, thành phần cho vào bao gồm: củ cải, trứng, konyaku v.v. Tùy theo vùng miền khác nhau, hương vị cũng như nguyên liệu chế biến có những điểm riêng biệt, tạo nên sự phong phú, đa dạng cũng như hương vị đặc trưng của oden. Nói đến thú thưởng thức oden, chắc không có gì có thể ví bằng trong một buổi chiều đầu đông, khi cái rét đang len lỏi, luồn lách trên từng con phố. Trong tiết trời như thế, khi nhìn thấy bát oden đang tỏa khói nghi ngút trước mặt, chắc không ai có thể cầm lòng để muốn thưởng thức ngay đúng không. Nhưng hãy bình tĩnh, để thấy hết được hương vị tuyết vời của oden, thì bạn cũng phải tuân thủ những qui tắc nhất đinh đấy nhé,” nghề chơi cũng lắm công phu” mà. Đầu tiên, hãy nâng bát oden lên cao một chút, để cho ta có thể cảm nhận hương vị ngot ngào của nước dùng. Có ai nói nước dùng chiếm một nửa sự thành công của món ăn, nhưng đối với den, quan điểm của tôi là “một nửa” thì đúng là sự xúc phạm, mà là phải 70,80 phần trăm hoặc hơn thể nữa.

http://hinamatsuri.files.wordpress.com/2008/12/oden.jpg

Mỗi nguyên liệu thêm vào được tính toán chi li, cẩn thẩn như đức tính nổi tiếng của người dân xứ sở Phù Tang. Đầu tiên là trứng, nói thì đơn giản, rửa sạch, bỏ vào nồi, bật lửa, thế là xong, nhưng không phải thế đâu nhé, làm sao để trứng không bị thâm, lửa thể nào la vừa đủ, phải luộc thế nào để trứng không bị dập, nội trong cái việc tưởng như đơn giản đấy thôi nhưng thử cho một anh a ma tơ làm xem, lại chẳng bị chị em mắng cho mà bỏ việc ý chứ. Nếu bắt đầu cảm thấy ngậy với món trứng, hay chuyển sang củ cải nhé. Củ cải phải được thái to và hầm thật kỹ. Tại sao lại như vậy thì bạn sẽ hiểu ngay khi đặt miệng củ cải vào trong việc. Tất cả những gi tinh túy của món oden dường như được kết tinh, cô đọng trong miếng củ cải, giống như con nguời Nhật Bản vậy, trái lại với vẻ ngoài bình dị là cả một tâm hồn sâu lắng. Cắn ngập miếng củ cải, cảm nhận từng hương vị được kết tinh trong nó: vị ngọt bùi của nước súp, vị béo gậy từ trứng, vị thơm ngọt ngào của củ cải, có lẽ, bạn cũng phải chấp nhận cùng tôi, oden la một món ăn, một văn hóa không thể thiếu của đất nước, của con người Nhật Bản.

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009

Điều kiện thiết yếu khi vào Nhật của người nước ngoài

Để có thể nhập cảnh vào Nhật, người nước ngoài cần phải có được hộ chiếu còn thời hạn. Nhưng với nhân viên đường hàng không/đường thủy , hay là với người nước ngoài đã trở thành nhân viên đường hàng không/đường thủy ở Nhật, nếu có được Sổ tay nhân viên còn thời hạn thì ngay cả khi không có hộ chiếu còn thời hạn vẫn có thể nhập cảnh vào Nhật.

Thêm nữa, người có mục đích vào Nhật nhưng không nhận được dấu xác nhận cho phép nhập cảnh hay quyết định đồng ý cho phép nhập cảnh từ nhân viên thẩm tra nhập cảnh thì cũng sẽ không được phép nhập cảnh.

Những người đã vào nước Nhật nhưng vi phạm điều kiện thiết yếu trên đây là người nhập cảnh trái phép, ngoài việc sẽ bị cưỡng chế rời khỏi Nhật, còn có thể trở thành đối tượng bị truy cứu hình sự.

Các thủ tục nhập cảnh của người nước ngoài

Về nguyên tắc, trước khi nhập cảnh vào Nhật, người nước ngoài phải bắt buộc chịu thẩm tra nhập cảnh của nhân viên thẩm tra nhập cảnh tại các cửa khẩu (các cửa khẩu này được đặt/mở theo lệnh của Bộ Tư pháp Nhật Bản).

Việc thẩm tra nhập cảnh được tiến hành bởi nhân viên thẩm tra nhập cảnh là việc không thể thiếu nhằm tiến hành việc quản lý nhập cảnh một cách chính qui, và ngăn cản việc nhập cảnh của người nước ngoài được xem là không tốt / không có lợi cho Nhật Bản, chẳng hạn như các diện sau: người nhập cảnh trái phép, người bị khước từ nhập cảnh có lý do, người có nghi vấn trong mục đích nhập cảnh. Chỉ sau khi đã được/chịu thẩm tra nhập cảnh và nhận dấu xác nhận cho phép nhập cảnh vào hộ chiếu, thì người nước ngoài muốn vào Nhật mới được nhập cảnh hợp pháp. Người nước ngoài không nhận/chịu thẩm tra nhập cảnh thì không thể nhập cảnh hợp pháp, nếu không nhận được quyết định đồng ý cho phép mà vẫn nhập cảnh thì sẽ là nhập cảnh/nhập quốc trái phép, sẽ bị cưỡng chế rời khỏi Nhật hoặc trở thành đối tượng truy cứu hình sự.

Dưới đây là là 5 điều kiện mà người nước ngoài có nguyện vọng nhập cảnh Nhật Bản phải thỏa mãn đầy đủ.

- Phải có hộ chiếu còn thời hạn và đã nhận visa từ Đại sứ quán/Lãnh sự quán Nhật Bản.
Nội dung hoạt động ghi trong hồ sơ xin visa (hoạt động dự định sẽ tiến hành tại Nhật Bản) không phải là giả mạo.

- Hoạt động dự định sẽ tiến hành tại Nhật Bản phải phù hợp với tư cách lưu trú đã được qui định trong Luật quản lý nhập cảnh. Đồng thời, tư cách lưu trú nào thì phải phù hợp với tiêu chuẩn đó, được qui định trong tiêu chuẩn thẩm tra nhập cảnh.

- Thời gian dự định lưu trú phải phù hợp với qui định về thời gian lưu trú trong luật định.

- Không bị vướng vào [một trong các] lý do từ chối nhập cảnh được qui định trong điều 5 của luật quản lý nhập cảnh.

- Trong trường hợp người nước ngoài đã được/nhận thẩm tra nhập cảnh của nhân viên thẩm tra nhập cảnh tại cửa khẩu nhưng chưa được công nhận là thỏa mãn điều kiện để nhập cảnh thì, sẽ được chuyển đến cho nhân viên thẩm tra đặc biệt, và phải chịu thẩm vấn (hỏi đáp bằng lời).

Theo kết quả thẩm vấn, trường hợp được nhân viên thẩm tra đặc biệt xác nhận là phù hợp với điều kiện nhập cảnh thì sẽ được nhập cảnh ngay lập tức, trường hợp được xác nhận là không phù hợp với điều kiện nhập cảnh thì có thể lựa chọn giữa hai khả năng: hoặc là phục tùng theo xác nhận của nhân viên thẩm tra đặc biệt, hoặc là kháng nghị; với trường hợp phục tùng theo xác nhận thì, lệnh rời đi [khỏi Nhật Bản] sẽ được đưa ra; với trường hợp kháng nghị thì, nội trong 3 ngày tính từ khi có xác nhận, có thể đệ trình kháng nghị tới Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Khi đã nhận kháng nghị của người nước ngoài được nhân viên thẩm tra nhập cảnh đặc biệt xác nhận là không phù hợp điều kiện nhập cảnh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ phán quyết xem [người đó] có đủ lý do hay không đủ lý do trong việc đệ trình kháng nghị, tức là người đó có phù hợp hay không phù hợp với điều kiện nhập cảnh. Theo kết quả phán quyết, trường hợp được xem là “có lý do” thì sẽ lập tức được nhập cảnh, trường hợp được xem là “không có lý do” sẽ chịu lệnh buộc rời khỏi Nhật Bản; trong trường hợp người nước ngoài đã nhận lệnh rời đi [khỏi Nhật Bản] mà không nhanh chóng rời đi thì, thủ tục cưỡng chế rời đi sẽ được thực thi.

Tuy nhiên, dù đã được xem là “không có lý do” để đệ trình kháng nghị, nhưng lại được Bộ trưởng Bộ Tư pháp công nhận là có nguyên cớ để được cho phép nhập cảnh một cách đặc biệt (đặc cách cho nhập cảnh), thì người nước ngoài trong trường hợp như vậy sẽ được đặc cách cho nhập cảnh.

Như vậy, có thể thấy, trong thủ tục thẩm tra nhập cảnh cho người nước ngoài ở Nhật Bản, người nước ngoài có tạo được cơ hội để tự mình phát biểu và biện luận đầy đủ về việc phù hợp [hay không phù hợp] với điều kiện để nhập cảnh.

Visa và Giấy xá nhận tư cách lưu trú

A. Visa (thị thực)

Về nguyên tắc, người nước ngoài muốn nhập cảnh vào Nhật Bản, ngoài việc có hộ chiếu còn thời hạn, thì còn phải nhận được visa do Đại sứ quán/Lãnh sự quán Nhật Bản cấp vào hộ chiếu đó.

Visa [có giá trị] xác nhận rằng hộ chiếu mà người nước ngoài đó đang sở hữu là cái có giá trị [pháp lý] do được cấp hợp pháp bởi cơ quan có thẩm quyền của chính phủ, đồng thời còn có tính chất là đề cử rằng việc nhập cảnh và lưu trú ở Nhật của người đó là thỏa đáng với những điều kiện được ghi trên visa.

Ở Nhật Bản, cấp phát visa thuộc vào công việc đảm trách của Bộ Ngoại giao.

B. Giấy chứng nhận tư cách lưu trú

Luật quản lý nhập cảnh qui định rằng : trường hợp người nước ngoài muốn nhập cảnh vào Nhật Bản với tư cách lưu trú không phải là “lưu trú ngắn hạn”, Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ căn cứ vào hồ sơ xin nhập cảnh mà tiến hành thẩm tra về tính thỏa đáng với điều kiện nhập cảnh liên quan đến tư cách lưu trú, sau đó có thể cấp văn bản chứng minh tính thỏa đáng về mặt tư cách lưu trú của những hoạt động mà người xin nhập cảnh dự định tiến hành. Văn bản này gọi là Giấy chứng nhận tư cách lưu trú. Chế độ [cấp] Giấy chứng nhận tư cách lưu trú này có mục đích là gọn nhẹ hóa, tốc độ hóa và hiệu suất hóa thủ tục thẩm tra nhập cảnh.

Giấy chứng nhận tư cách lưu trú là văn bản được cấp trong trường hợp: Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nhật Bản thẩm tra trước để xem hoạt động mà người nước ngoài có mong muốn nhập cảnh nước Nhật dự định tiến hành tại Nhật ,có thỏa mãn hay không thỏa mãn với điều kiện để nhập cảnh (điều kiện thiết yếu về tính thỏa đáng của tư cách lưu trú, và tính phù hợp với tiêu chuẩn), sau đó đã xác nhận rằng thỏa mãn với điều kiện để nhập cảnh. Tuy nhiên, ngay cả khi hoạt động dự định tiến hành tại Nhật Bản của người nước ngoài mong muốn nhập cảnh vào nước Nhật,được xem là có tính thỏa đáng của tư cách lưu trú và tính phù hợp với tiêu chuẩn, nhưng nếu người này được xem là không thỏa mãn với những điều kiện nhập cảnh khác (như vướng vào [một trong những] lý do khước từ nhập cảnh), thì Giấy chứng nhận tư cách lưu trú sẽ không được cấp.

Trong trường hợp người nước ngoài đã được cấp Giấy chứng nhận tư cách lưu trú tới đệ trình văn bản này (Giấy chứng nhận tư cách lưu trú) và xin cấp visa tại Đại sứ quán/ Lãnh sự quán Nhật Bản, Giấy chứng nhận tư cách lưu trú được xem là văn bản đã hoàn tất việc thẩm tra trước của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, nên viêc cấp visa sẽ được tiến hành nhanh chóng.

Thêm nữa, người nước ngoài đệ trình Giấy chứng nhận đó (Giấy chứng nhận tư cách lưu trú) tại cửa khẩu sẽ được nhân viên thẩm tra nhập cảnh xem là người thỏa mãn điều kiện nhập cảnh trong tư cách lưu trú, nên việc thẩm tha nhập cảnh cũng sẽ được tiến hành nhanh chóng gọn nhẹ.

Lí do khước từ nhập cảnh

Nhà nước/chính phủ có quyền cấm nhập cảnh đối với người nước ngoài không tốt/không có lợi cho quốc gia cũng như cho phép nhập cảnh đối với nguời được xem là thỏa đáng, đây là nguyên tắc được xác lập trong luật quốc tế, các nước đều khước từ việc nhập cảnh/nhập quốc của người nước ngoài được xem là có khả năng làm phương hại tới những mặt như vệ sinh công đồng, trật tự xã hội, trị an trong nước.

Về cụ thể, với lí do khước từ nhập cảnh, có những thành phần người nước ngoài được xem là không tốt/không có lợi đối với nước Nhật như sau sẽ bị khước từ nhập cảnh vào Nhật Bản.

Người được xem là không thích hợp để cho phép nhập cảnh từ góc độ bảo vệ sức khỏe, vệ sinh.
2. Người được xem là không thích hợp để cho phép nhập cảnh với lý do là có tính phản xã hội (phản động) cao.
3. Người được xem là không thích hợp để cho phép nhập cảnh với những lý do như là đã chịu sự cưỡng chế buộc rời đi khỏi lãnh thổ Nhật.
4. Người được xem là không thích hợp để cho phép nhập cảnh với lý do là có khả năng làm phương hại đến lợi ích hay trị an của Nhật Bản.
Người không thể cho phép nhập cảnh dựa trên [quan điểm của] chủ nghĩa tương hỗ (principle of reciprocity).

Thủ tục xuất cảnh của người nước ngoài

Người nước ngoài muốn rời khỏi Nhật Bản nhất định phải được sự xác nhận xuất cảnh của nhân viên thẩm tra nhập cảnh. Xác nhận xuất cảnh là việc xác nhận việc xuất cảnh của các cá nhân người nước ngoài, được tiến hành với mục đích nhằm nắm được một cách đích xác về người nước ngoài rời khỏi Nhật Bản, mà không phải là việc kiềm chế bản thân việc xuất cảnh.

Về nguyên tắc, xác nhận xuất cảnh được tiến hành bằng cách đóng dấu chứng thực vào hộ chiếu của người nước ngoài, nhưng với trường hợp đã nhận được Giấy cho phép khi nhập cảnh thì sẽ được tiến hành bằng cách thu hồi Giấy cho phép. Ngay cả với trường hợp đã nhận được đồng ý cho phép tái nhập cảnh, thì khi xuất cảnh cũng nhất thiết phải được/chịu xác nhận xuất cảnh.

Việc xuất cảnh của người nước ngoài có hiệu quả [tình huống] như sau : người nước ngoài tuy đã hết tư cách lưu trú và hạn lưu trú mà người đó vốn đã có trong thời gian lưu trú ở Nhật nhưng đã nhận được sự đồng ý cho phép tái nhập cảnh trước khi xuất cảnh, thì nếu người đó tái nhập cảnh trong thời gian đồng ý cho phép tái nhập cảnh còn hạn, thì tư cách lưu trú và thời gian lưu trú sẽ được xem là kéo dài tiếp tục như trước đó.

Người xuất cảnh mà không được nhận xác nhận xuất cảnh hay người có mưu hoạch trong việc xuất cảnh sẽ trở thành đối tượng truy cứu hình sự.

Tư cách lưu trú

Người nước ngoài lưu trú ở Nhật Bản không được vượt qua phạm vi hoạt động (đã được cho phép) trong tư cách lưu trú (đã được phê cấp) hay tùy tiện thay đổi nội dung hoạt động để vận hành/điều khiển các chương trình mang lại thu nhập, hoặc tiến hành các hoạt động được nhận thù lao. Khi muốn tiến hành các hoạt động tương ứng với tư cách lưu trú khác tư cách lưu trú mà mình hiện đang có, người nước ngoài nhất thiết phải làm thủ tục chuyển đổi tư cách lưu trú để nhận được đồng ý của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; và khi bên cạnh các hoạt động thuộc tư cách lưu trú hiện đang có mà muốn vận hành/ điều khiển các chương trình mang lại thu nhập hay tiến hành các hoạt động được nhận thù lao, người nước ngoài nhất thiết phải qua các thủ tục đã định để nhận được đồng ý cho phép hoạt động/lao động ngoài tư cách. Thêm nữa, khi thời hạn lưu trú đã được phép và tư cách lưu trú đến kì mãn hạn mà muốn tiếp tục lưu trú thì cần phải làm thủ tục đổi (cấp hạn mới) thời gian lưu trú.

Chuyển đổi tư cách lưu trú

Chuyển đổi tư cách lưu trú có nghĩa là: khi người nước ngoài có tư cách lưu trú do muốn thay đổi mục đích lưu trú để có thể hoạt động phù hợp với tư cách lưu trú khác, làm thủ tục xin Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho phép thay đổi tư cách lưu trú, nhờ đó nhận được đồng ý cho phép thay đổi từ tư cách lưu trú hiện đang có sang tư cách lưu trú mới.

Nhờ có thủ tục này nên trong trường hợp người nước ngoài đang lưu trú ở Nhật muốn được tiến hành các hoạt động thuộc tư cách lưu trú khác,mà các hoạt động đó không thể tiến hành ở tư cách lưu trú hiện đang có, người đó có thể xin được tư cách lưu trú khác mà không cần phải tạm thời rời Nhật một lần.

Người nước ngoài muốn được chuyển đổi tư cách lưu trú nhất thiết phải theo đúng các thủ tục đã được qui định bởi pháp lệnh của Bộ Tư pháp để xin Bộ trưởng Bộ Tư pháp đồng ý cho phép chuyển đổi tư cách lưu trú.

Đổi (cấp hạn mới) tư cách lưu trú

Về mặt nguyên tắc, người nước ngoài hiện có tư cách lưu trú và đang sống tại Nhật Bản có thể lưu trú ở Nhật chỉ hạn trong thời gian lưu trú đã được cấp, vì thế cho nên, ví như trong trường hợp với thời gian lưu trú đã được cấp (cấp khi được cho phép nhập cảnh) mà không thể hoàn thành mục đích lưu trú đã định thì người đó phải tạm thời xuất cảnh một lần, phải xin lại visa rồi mới nhập cảnh lại; việc trên sẽ trở thành gánh nặng lớn đối với người nước ngoài.

Chính vì thế, Luật quản lý nhập cảnh đã qui định thủ tục cho phép đổi (cấp hạn mới) thời gian lưu trú để có thể tiếp tục lưu trú đối với trường hợp nào,mà Bộ trưởng Bộ Tư pháp phán đoán rằng việc tiếp tục công nhận sự lưu trú của người nước ngoài hiện đang lưu trú tại Nhật Bản đó là thỏa đáng.

Người nước ngoài muốn đổi (cấp hạn mới) thời gian lưu trú nhất thiết phải theo các thủ tục đã được qui định bởi pháp lệnh của Bộ Tư pháp để xin Bộ trưởng Bộ Tư pháp đồng ý cho phép đổi (cấp hạn mới) thời gian lưu trú.

Lấy tư cách lưu trú

Lấy tư cách lưu trú có nghĩa là đồng ý cho phép lưu trú cần phải có với người nước ngoài trong trường hợp: với lý do từ bỏ quốc tịch Nhật Bản hay sinh nở, hoặc các lý do khác, người nước ngoài đành phải lưu trú ở Nhật mà không qua thủ tục nhập cảnh được qui định bởi Luật quản lý nhập cảnh, và muốn lưu trú ở Nhật trên 60 ngày kể từ ngày phát sinh lý do.

Chế độ tư cách lưu trú của Nhật Bản được qui định ra để thực hiện việc quản lý mang tính chính thức việc nhập cảnh và lưu trú của tất cả người nước ngoài, bởi vậy, với người từ bỏ quốc tịch Nhật Bản hay người nước ngoài với lý do như sinh nở (hay lí do khác) đành phải lưu lại Nhật Bản mà không qua thủ tục xin cho phép nhập cảnh, đều phải có được tư cách lưu trú khi lưu trú.

Nhưng khó có thể ngay lập tức bắt buộc thực hiện nghĩa vụ về mặt quản lý xuất nhập cảnh đối với người nước ngoài đành phải lưu trú ở Nhật Bản với các lý do trên kể từ ngày phát sinh các lý do, và cũng có trường hợp: người nước ngoài đành lưu lại Nhật Bản với các lý do trên nhưng không có mong muốn lưu trú lâu dài. Bởi vậy, cùng với việc công nhận việc có thể tiếp tục lưu trú ở Nhật Bản mà không có tư cách lưu trú trong vòng 60 ngày tính từ ngày phát sinh lý do, thì trong trường hợp muốn lưu trú hơn 60 ngày nhất thiết phải xin tư cách lưu trú nội trong 30 ngày kể từ ngày lý do phát sinh.

Người nước ngoài muốn xin tư cách lưu trú phải tuân theo thủ tục được qui định bởi pháp lệnh của Bộ Tư pháp để tiến hành việc xin Bộ trưởng Bộ Tư pháp đồng ý cho lấy tư cách lưu trú.

Đồng ý cho phép đinh cư (lưu trú lâu dài)

Đồng ý cho phép định cư là quyết đinh cho phép của Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp cho trường hợp người nước ngoài có tư cách lưu trú muốn chuyển tư cách lưu trú sang thành người định cư, có thể xem đó là một loại đồng ý cho phép chuyển đổi tư cách lưu trú.

Người nước ngoài đã nhận được sự đồng ý cho phép định cư sẽ được lưu trú ở Nhật Bản với tư cách lưu trú của “người định cư”. Tư cách lưu trú gọi là “người định cư” do không có giới hạn về hoạt động lưu trú hay thời gian lưu trú, cho nên việc quản lí lưu trú được thực hiện lỏng hơn rất nhiều so với các tư cách lưu trú khác. Bởi vậy, với sự đồng ý cho phép định cư, việc thẩm tra cần phải tiến hành thận trọng hơn so với việc chuyển đổi tư cách lưu trú thông thường, cho nên sẽ có qui định được đặt riêng/độc lập với thủ tục xin đồng ý cho phép chuyển đổi tư cách lưu trú nói chung.

Đồng ý cho phép đinh cư (lưu trú lâu dài)

Đồng ý cho phép tái nhập quốc/nhập cảnh là đồng ý cho phép của Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp nhằm làm gọn nhẹ hóa thủ tục nhập cảnh cho trường hợp: người nước ngoài đang lưu trú tại Nhật Bản có mong muốn rời Nhật trong một thời gian rồi sau đó lại trở lại Nhật, và đồng ý cho phép này được cấp trước khi người đó xuất cảnh.

Người nước ngoài đang lưu trú tại Nhật Bản đã xuất cảnh mà nếu không nhận được (không làm thủ tục xin) sự đồng ý cho phép tái nhập quốc thì tư cách lưu trú và thời gian lưu trú mà người đó đang có sẽ mất, cho nên với trường hợp người này muốn vào lại Nhật Bản, phải xin lại visa trước khi nhập cảnh, phải xin nhập cảnh và qua được thủ tục thẩm tra nhập cảnh thì mới nhận được đồng ý cho phép nhập cảnh.

Ngược lại, với người nước ngoài đã nhận được đồng ý cho phép tái nhập cảnh, trong khâu làm thủ tục xin nhập cảnh khi nhập cảnh, sẽ được miễn trừ visa (mà bình thường là cần thiết).

Thêm nữa, sau khi nhập cảnh thì tư cách lưu trú và thời gian lưu trú trước đó sẽ được xem là tiếp tục có giá trị.

Đồng ý cho phép tái nhập cảnh có 2 loại: loại chỉ có giá trị 1 lần và loại có giá trị nhiều lần (có thể sử dụng nhiều lần khi thời gian lưu trú còn hạn).

Đồng ý cho phép hoạt động/lao động ngoài tư cách

Tư cách lưu trú của người nước ngoài lưu trú tại Nhật Bản được qui định bởi Luật quản lý nhập cảnh, được phân ra làm 27 loại tư cách lưu trú tương ứng với hoạt động trong thời gian lưu trú hay địa vị/thân phận của người nước ngoài. Trong đó, về 23 loại tư cách lưu trú được liệt kê trong Bảng riêng số 1 của Luật nói trên, sẽ được qui định về các hoạt động có thể tiến hành ở Nhật Bản của từng tư cách lưu trú ở phần dưới của bảng đó (Bảng riêng số 1), với các trường hợp muốn điều hành các chương trình mang lại thu nhập hay tiến hành các hoạt động được thu lao ngoài các hoạt động được cho phép, nhất thiết phải nhận được đồng ý cho phép của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Nội dung hoạt động được cho phép sẽ được ghi trong Giấy cho phép hoạt động/lao động ngoài tư cách cùng với các chi tiết như về tên của doanh nghiệp/cơ sở thuê mướn nhân công (giấy này sẽ được cấp khi đồng ý).

Nhưng cần chú ý rằng, về nguyên tắc, với người nước ngoài có tư cách lưu trú là “lưu học” hay “tựu học” [tu nghiêp/thực tập] có thể nhận được đồng ý cho phép tổng quát để được thực hiện hoạt động ngoài tư cách mà không đặc định về nội dung hoạt động và nơi thực hiện, nhưng phải đính kèm thêm “thư đề nghị kèm theo” của các cơ sở giáo dục/đào tạo [trong hồ sơ]. Như ghi dưới đây, đồng ý cho phép tổng quát này cũng có một số hạn chế về thời gian hoạt động và nơi hoạt động.

(1)Hạn mực trong thời gian hoạt động

a Lưu học sinh (không tính nghiên cứu sinh [sinh viên chuẩn bị vào sau đại học] hay học viên dự thính phải chuyên vào nghe giảng)
Có thể làm công việc/điều hành chương trình mang lại thu nhập hay tiến hành hoạt động cho thù lao trong vòng 28 tiếng / một tuần (vào kì nghỉ dài hạn của cơ sở giáo dục/đào tạo thì là trong vòng 8 tiếng/một ngày)
b Nghiên cứu sinh [sinh viên chuẩn bị vào sau đại học] hay học viên dự thính phải chuyên vào nghe giảng
Có thể làm công việc/điều hành chương trình mang lại thu nhập hay tiến hành hoạt động cho thù lao trong vòng 14 tiếng / một tuần (vào kì nghỉ dài hạn của cơ sở giáo dục/đào tạo thì là trong vòng 8 tiếng/một ngày)
c Tựu học sinh
Có thể làm công việc/điều hành chương trình mang lại thu nhập hay tiến hành hoạt động cho thù lao trong vòng 4 tiếng / một ngày.

(2)Hạn chế về nơi hoạt động

Không tính đến người làm việc tại các sơ sở kinh doanh tính dục / mại dâm hoặc kinh doanh tính dục/mại dâm theo hình thức có mở cửa hàng, và người làm việc trong các nghề kinh doanh sau: kinh doanh tính dục/mại dâm theo hình thức không mở cửa hàng, kinh doanh tính dục/mại dâm theo hình thức truyền gửi hình ảnh, kinh doanh môi giới tính dục bằng điện thoại theo hình thức có mở cửa hàng, kinh doanh môi giới tính dục bằng điện thoại theo hình thức không mở cửa hàng.

Tiếp theo là, hiện nay, với người đang lưu trú với tư cách lưu trú là “lưu trú ngắn hạn” và là người nước ngoài đã tốt nghiệp đại học (bao gồm cả đại học ngắn hạn và sau đại học) ở Nhật Bản (không tính học sinh khoa đặc biêt, học viên dự thính, học viên đến nghe giảng lấy chứng chỉ/đơn vị, và nghiên cứu sinh [sinh viên chuẩn bị vào sau đại học]) mà đang tiếp tục hoạt động xin việc từ trước khi tốt nghiệp thì, căn cứ vào [hồ sơ] xin cá biệt, có thể nhận được đồng ý cho phép hoạt động/lao động ngoài tư cách trong vòng 28 tiếng/một tuần. Khi đệ trình hồ sơ phải đính kèm thêm “Thư đề cử” của đại học.

Thêm nữa, hiện nay, người lưu trú với tư cách lưu trú là “sống cùng gia đình/đoàn tụ gia đình” mặc dù đã có thể nhận được đồng ý cho phép tổng quát rằng có thể hoạt động/lao động ngoài tư cách với mức trong vòng 28 tiếng/một tuần, những cũng có những hạn chế giống như (2) ở trên.

Giấy chứng nhận tư cách lao động

Giấy chứng nhận tư cách lao động là văn bản mà Bộ trưởng Bộ Tư pháp chứng nhận về hoạt động cho thu nhập hay hoạt động được nhận thù lao (dưới đây gọi là “hoạt động/lao động”) mà người ngoài lưu trú tại Nhật Bản có thể tiến hành (dựa trên kết quả thẩm tra hồ sơ đệ trình của người đó).

Người muốn tuyển dụng người nước ngoài cần phải xác nhận trước xem người nước ngoài đó có hay không có tư cách lao động tại Nhật Bản, đồng thời, về phía bản thân người nước ngoài, thì để có thể thực hiện thủ tục tìm việc/xin việc một cách suôn sẻ, cũng cần có cách giúp cho phía tuyển dụng lao động hiểu rõ rằng mình có tư cách lưu trú có thể lao động. Có thể thực hiện việc xác nhận người nước ngoài có thể hay không có thể lao động hợp pháp ở Nhật Bản bằng cách xem dấu chứng nhận có thể nhập cảnh được đóng trong hộ chiếu hay thẻ đăng kí người nước ngoài hoặc giấy đồng ý cho phép hoạt động ngoài tư cách.

Nhưng cũng có trường hợp nếu không đối chiếu hoạt động tương ứng với các tư cách lưu trú ghi trong bảng riêng (bảng đính kèm) của Luật quản lý nhập cảnh thì sẽ không định được rõ những hoạt động cụ thể nào được qui định. Chính vì thế, Luật quản lý nhập cảnh có mục đích là giúp thuận tiện cho cả hai bên (cả bên tuyển dụng lao động và cả bên người nước ngoài), với trường hợp người nước ngoài có nguyện vọng thì có thể cấp giấy chứng nhận tư cách lao động trong đó ghi cụ thể về hoạt động lao động mà người đó có thể thực hiện, và cũng có thể dễ dàng xác nhận được nội dung hoạt động lao động được cho phép của người nước ngoài [mà phía tuyển dụng] muốn tuyển.

Bản thân Giấy chứng nhận tư cách lao động không phải là căn cứ cho việc người nước ngoài có thể tiến hành hoạt động/lao động, và cũng không có nghĩa là: nếu không có giấy đó thì người nước ngoài không thể tiến hành hoạt động/lao động.

Thêm nữa, trong Luật quản lý nhập cảnh cũng qui định rằng, không được đối xử bất công/bất lợi (như có sự phân biệt trong tuyển dụng) nếu vì lý do không trình/nộp Giấy chứng nhận tư cách lao động.

Việc mang sẵn hộ chiếu bên mình

Người nước ngoài lưu trú ở Nhật Bản luôn phải mang hộ chiếu hay các loại giấy tờ pháp lí theo bên mình, để khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu xuất trình thì có thể lập tức xuất trình.

Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, nếu trong hộ chiếu của người nước ngoài đang lưu trú ở Nhật Bản nêu không nhận được một loại đồng ý cho phép nào đó được qui định bởi Luật quản lý nhập cảnh thì sẽ không được nhập cảnh hay lưu trú ở Nhật, hoạt động sẽ bị hạn chế do tư cách lưu trú, hoặc bị hạn chế [bắt buộc]. Vì thế, để có thể nắm bắt tức thời người nước ngoài đang lưu trú ở Nhật có hay không có tính hợp pháp về lưu trú, có thể hay không thể hoạt động/lao động ngoài tư cách, có vi phạm hay không vi phạm điều kiện đã được cho phép về nhập cảnh – lưu trú, người nước ngoài luôn phải mang theo hộ chiếu hay giấy tờ pháp lý các loại bên mình, khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì phải trình báo.

Nhưng nếu mang theo Thẻ đăng kí người nước ngoài thì được miễn nghĩa vụ mang hộ chiếu theo bên mình.

Người nào vi phạm qui định này sẽ trở thành đối tượng xử phạt hình sự hay xử phạt hành chính.

Tước bỏ tư cách lưu trú

Hiện nay, trong số người nước ngoài đang lưu trú tại Nhật Bản, có không ít người đã nhập cảnh bằng sự gian dối hay bằng các mánh lới bất chính, hoặc không làm đúng các hoạt động tương ứng với tư cách lưu trú để lao động bất hợp pháp, phạm tội, làm phương hại đến quản lý xuất nhập cảnh hợp pháp, vì thế, để vận dụng chế độ tư cách lưu trú một cách hiệu quả hơn nữa, trong phần được cải chính của Luật quản lý nhập cảnh năm Bình Thành 16 (2004) đã có thêm chế độ tước bỏ tư cách lưu trú.

Khi một trong những điều mục/sự việc được đánh số dưới đây được minh chứng, thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể tước bỏ tư cách lưu trú mà người nước ngoài hiện đang có.

Trường hợp đã nhận được dấu chứng nhận đồng ý cho phép nhập cảnh bằng sự gian dối hay thủ đoạn bất chính, nhờ đó mà đã làm cho phán đoán của nhân viên thẩm tra nhập cảnh về tính thỏa đáng của các lý do khước từ nhập cảnh đã bị sai nhầm.

Trường hợp đã nhận được dấu chứng nhận đồng ý cho phép nhập cảnh bằng gian dối hay thủ đoạn bất chính, khai man hoạt động muốn thực hiện tại Nhật Bản. Ví dụ: người có mong muốn làm lao động đơn giản ở Nhật nhưng lại khai báo là tiến hành các hoạt động tương ứng với tư cách lưu trú là “kĩ thuật” sẽ trở thành đối tượng bị tước bỏ tư cách lưu trú trong điều mục này.

Trường hợp người đệ trình hồ sơ đã khai man các sự thực/sự việc bên ngoài hoạt động dự định tiến hành tại Nhật Bản và đã nhận được dấu chứng nhận đồng ý cho phép nhập cảnh. Ví dụ: trường hợp người đệ trình hồ sơ khai man lý lịch cá nhân của chính mình sẽ trở thành đối tượng bị tước bỏ tư cách lưu trú trong điều mục này.

Trường hợp với phương cách khác với điều mục từ 1 đến 3 kể trên để đệ trình hồ sơ giả mạo/man trá và nhận được dấu chứng nhận đồng ý cho phép nhập cảnh. Ở điều mục này, việc man trá hay thủ đoạn bất chính không trở thành điều kiện thiết yếu, và cũng không cần phải có điều kiện là người đệ trình hồ sơ có chủ ý.

Trường hợp đã trên 3 tháng liên tục không thực hiện các hoạt động liên quan đến tư cách lưu trú (chỉ giới hạn vào Bảng riêng số 1 trong Luật quản lý nhập cảnh) hiện có (nhưng không tính trường hợp có lý do chính đáng cho việc lưu trú mà không thực hiện hoạt động tương ứng).
Trước khi tước bỏ tư cách lưu trú, có tiến hành việc lấy ý kiến của người nước ngoài đang trở thành đối tượng [thẩm tra].

Thêm nữa, trường hợp bị tước bỏ tư cách lưu trú với lý do tương ứng với điều mục 1 và 2 ghi trên đây sẽ trở thành đối tượng bị cưỡng chế rời đi ngay lập tức, còn trường hợp bị tước bỏ tư cách lưu trú với lý do tương ứng với điều mục 3, 4, 5 nêu trên thì sẽ được cho thời hạn chuẩn bị xuất cảnh nội trong 30 ngày, được phép tự chủ xuất cảnh trong thời hạn đó.

Nếu trong thời hạn được chỉ định mà không xuất cảnh thì sẽ trở thành đối tượng bị cưỡng chế rời đi, và cũng có thể trở thành đối tượng bị xử phạt hình sự.

(Nguồn www.thongtinnhatban.net)

Tên họ của người Nhật Bản

Một trong những điểm hóc búa đối với người nước ngoài khi học tiếng Nhật và với cả người Nhật là cách đọc và viết tên họ. Vậy nhưng đây cũng chính là một nét văn hóa hết sức đặc sắc của Nhật Bản. Đi tìm nguồn gốc của những tên họ này sẽ dẫn ta đến những bất ngờ thú vị.

Hệ thống đặt tên họ của Nhật Bản rất phức tạp do hệ thống chữ viết gồm một khối lượng lớn các ký tự. Do vậy có nhiều tên họ phát âm giống nhau nhưng có thể được viết theo nhiều cách bằng các ký tự khác nhau. Ngược lại, một ký tự có thể có nhiều cách đọc nên chỉ dựa vào chữ viết thì nhiều khi không biết phát âm tên họ thế nào cho đúng. Tại Nhật Bản tồn tại chừng 120.000 họ. Số lượng lớn tên họ này trái ngược với hệ thống tên họ của Triều Tiên, Trung Quốc hay Việt Nam, trong đó mỗi làng thường gồm có một cộng đồng có quan hệ ruột thịt mang cùng một họ và trên toàn quốc chỉ có khoảng vài trăm họ khác nhau.

Họ của người Nhật có từ đâu ?

Vào khoảng thế kỷ thứ 13, việc sử dụng tên trong người Nhật bắt đầu phổ biến. Vì vậy nên vào thế kỷ thứ 17, khi thường dân ngoại trừ các samurai vẫn bị cấm không được mang tên, tên gọi đã được sử dụng tương đối rộng rãi, trong khi họ thì hầu như không có. Tại thời điểm đó, họ của người Nhật chỉ được sử dụng giới hạn trong các gia đình quyền thế. Những nhánh độc lập của hoàng tộc được Nhật Hoàng phong họ, trong khi các gia đình quí tộc từ xa xưa có họ riêng cho mình. Những dòng họ cổ này mang đậm màu sắc tôn giáo Thần đạo. Các tướng quân phong kiến thì được phong họ sau khi được cấp ấp, đất đai do công trạng của mình. Ngoài ra cũng có một số dòng họ do người Trung Quốc và Triều Tiên mang theo khi lánh nạn sang Nhật Bản từ thế kỷ thứ 4 về sau như họ Vương, họ Tần.

Vào đầu thời Minh Trị, trên 80% dân số Nhật Bản không có họ chính thức. Một bộ luật bắt buộc phải mang họ để nộp thuế được ban hành năm 1883 đã làm cho các tầng lớp dân thường như nông dân, thương nhân phải chọn và đăng ký họ. Đây là lý do chính làm bùng nổ số họ của người Nhật.

Việc đột nhiên phải chọn họ cho mình đương nhiên đã làm không ít người dân vốn ít chữ nghĩa phải lúng túng. Họ thường tìm đến người có chữ trong làng để xin họ, hoặc đơn giản là lấy cùng họ của những người láng giềng. Vậy nên không hiếm trường hợp cả làng lấy cùng một họ. Những họ được chọn phổ biến nhất là tên địa danh (Chiba, Wakamatsu...), đặc điểm địa hình như sông, núi, ruộng đồng (Mori, Yamada, Ogawa...), rồi phương hướng (Higashi, Nishimura...). Những họ này chiếm tới 90% trong số 120 nghìn họ của người Nhật. Cũng có những gia đình lấy nghề nghiệp làm họ của mình.

Một điều đáng chú ý là do sự hâm mộ đối với dòng họ nổi tiếng trong lịch sử là Fujiwara mà những dòng họ có ghép chữ fuji (còn đọc là to) vào tên địa phương như Kato, Ito, Ando, Sato, Saito, Koto, Goto trở nên khá phổ biến, trong khi những hậu duệ của Fujiwara mang họ Fujiwara, Fujikawa, Fujimoto... Họ Suzuki được ghép giữa chữ suzu (Linh) và chữ ki (Mộc) lấy từ Thần Mộc (cây thiêng trong đền) đều là những vật gắn liền với đền thờ Thần đạo, tôn giáo được nhà nước chủ trương chấn hưng trong thời kỳ này.

Những họ phổ biến và độc đáo

10 họ phổ biến nhất tại Nhật hiện nay là: 1. Sato, 2. Suzuki, 3. Takahashi, 4. Tanaka, 5. Watanabe, 6. Ito, 7. Yamamoto, 8. Nakamura, 9. Kobayashi và 10. Kato. Tuy nhiên, 100 họ phổ biến nhất cũng chỉ chiếm chừng 30% đến 40% dân số. Đại đa số họ của người Nhật gồm 2 chữ Hán, nhưng cũng không ít họ chỉ có 1 chữ Hán, thậm chí 1 âm, trong khi họ dài nhất được viết bằng 5 chữ Hán.

Một số họ mang nghĩa khá đặc biệt như những ví dụ sau:

Cách đọc-Cách viết-Nghĩa-Cách đọc-Cách viết-Nghĩa

Ibukuro-Dạ dày-Gokuraku-Cực lạc
Uki-Ngoại tình-Furo-Nhà tắm
Onigiri-‘Cơm nắm’-Kingyo-Cá vàng
Niizuma-Vợ mới-Muteki-Vô địch
Hige-Râu-Teppo-Đại bác

Điều đặc biệt là dù số lượng tên họ nhiều như vậy, hoàng tộc không có họ.

Tên của người Nhật

Tên của người Nhật thậm chí còn khó đọc hơn họ, do sự liên hệ giữa chữ viết và cách đọc hêt sức lỏng lẻo. Tên thường được chọn từ các chữ mang nghĩa may mắn hay đáng trân trọng, hoặc những từ chỉ thứ tự đứa trẻ được sinh ra trong nhà v.v... Thường thì cách đặt thứ hai được dùng phổ biến cho con trai. Đôi khi người ta dùng kết hợp cả hai cách đặt tên. Phổ biến là chữ viết cuối cùng của tên gọi là một tiếp vị ngữ chỉ giới tính. Vì vậy tên của con trai thường có tiếp vị ngữ ‘hiko’, ‘o’ hoặc ‘to’, còn tên của con gái có tiếp vị ngữ ‘ko’. Tên của phụ nữ cho đến thời Edo hầu như không dùng chữ Hán. Tên viết bằng chữ Hán chỉ vượt quá 50% khi bước vào thế kỷ 20.

Gần đây, có xu thế đặt tên con trai với những chữ mang ấn tượng nhanh, mạnh và khoáng đạt, trong khi tên con gái không dùng tiếp vị ngữ ko, với những chữ mang ấn tượng về vẻ đẹp, sự dịu dàng và dễ đọc khi phiên âm.

Thời kỳ sau chiến tranh, chính phủ Nhật Bản đã cố gắng đơn giản hoá hệ thống đặt tên phức tạp này bằng cách hạn chế số ký tự được sử dụng để đặt tên dựa theo một danh sách giới hạn đặc biệt được chính thức chấp nhận dùng để đăng ký khai sinh. Các bậc phụ huynh được khuyên là nên dựa vào đó để chọn tên con.

Các ngày nghỉ lễ ở Nhật

NGÀY NGÀY LỄ
1/1 Năm mới

15/1
Ngày thanh niên
21/2 Ngày xuân phân
29/4 Ngày cây xanh

3/5 Ngày kỷ niệm hiến pháp

5/5 Ngày trẻ em
20/7 Ngày hải dương
15/9 Ngày kính lão
23/9 Ngày thu phân
10/10 Ngày thể thao
3/11 Ngày văn hóa
23/11 Ngày tạ ơn lao động
23/12 Ngày sinh nhật Nhật hoàng

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2009

Nghi thức cúi chào của người Nhật

Không giống như người dân các nước phương Tây, người Nhật Bản khi gặp nhau không bắt tay hay ôm hôn mà thay vào đó là cúi chào nhau. Cúi chào là một nghi thức khá phức tạp nhưng rất quan trọng trong giao tiếp. Bạn phải học cúi chào đúng cách để thể hiện sự tôn trọng đối với người Nhật.

Trên đất Nhật, người Tây cũng phải cúi chào

Nghi thức cúi chào được gọi là Ojigi. Ojigi bao gồm nhiều mức độ, từ một cái gật đầu khẽ đến tư thế cúi gập người 90 độ. Tư thế cúi chào của Ojigi phụ thuộc vào hoàn cảnh, vị thế của người bạn chào đối với bạn, và phụ thuộc vào bạn là nam hay nữ.

Các đồng nghiệp cúi chào khi gặp nhau

Ojigi không chỉ được dùng khi gặp nhau, mà còn thể hiện sự biết ơn, biết lỗi, nhờ vả… Vì vậy, khi cảm ơn hay xin lỗi người Nhật, bạn cũng phải hành lễ Ojigi. Tư thế hành lễ đẹp nhất là đứng chụm hai chân lại, đổ người về trước ở phần eo làm sao cho lưng và chân vẫn giữ thẳng, không được để cong. Khi cúi người, bạn có thể đồng thời nói những câu như “Konnichiwa” (xin chào), “Arigatou gozaimasu” (cám ơn), “Sumimasen” (xin lỗi), “Onegaishimasu” (làm ơn)…

Trong xã hội hiện đại, thông thường người ta sẽ đứng và cúi chào, nhưng nếu nghi lễ được diễn ra trên sàn trải tatami, bạn phải quỳ xuống chào. Hai bàn tay duỗi thẳng, khép các ngón lại và đặt trước mặt, hai bàn tay không chĩa thẳng về phía người đối diện mà hơi chụm vào nhau, cách nhau khoảng 10-20cm. Khi cúi xuống thì cúi từ từ, đầu cách mặt đất 10-15cm. Khi ngẩng dậy cũng làm thật từ tốn.

Ojigi trên sàn tatami


Khi đứng chào, đối với nam: hai bàn tay duỗi thẳng, khép ngón, khép hai cánh tay sát bên sườn, và cúi xuống.

Đối với nữ: hai tay duỗi thẳng, đặt trước người tạo thành hình chữ V sao cho bàn tay phải đặt trên bàn tay trái, ngón tay duỗi thẳng và khép lại, rồi từ từ cúi chào.


Trong trường hợp chào xã giao hàng ngày, đối với những người ngang tầm mình thì cúi khoảng 15 độ.


Trang trọng hơn, như khi lần đầu gặp mặt, cúi khoảng 30 độ. Còn khi muốn cảm ơn ai đó, bạn nên cúi 45 độ thể hiện sự biết ơn từ tận đáy lòng mình.


Đối với sếp hay những người lớn tuổi hơn, càng cúi thấp càng thể hiện sự kính trọng của bạn đối với người đó, nghĩa là, người bạn chào có cấp bậc hay tuổi tác hơn bạn càng nhiều thì bạn càng phải cúi sâu và giữ ở tư thế đó lâu hơn bình thường. Đôi khi phải cúi gập đến 90 độ, trong những trường hợp gia nhân chào chủ nhà chẳng hạn.


Ảnh trên đây là ví dụ về các cách chào trong nghi lễ Ojigi, các bạn có thể thấy là 2 hình đầu là cách chào đúng, hình cuối cùng là cách chào sai, vì lưng và chân bị cong. Tuy nhiên, không phải cứ nhìn thấy nhau là người ta lại hành lễ Ojigi, thông thường chỉ lần gặp đầu tiên trong ngày, người Nhật sẽ cúi chào theo đúng chuẩn, còn những lần gặp tiếp theo họ sẽ chỉ khẽ gật đầu chào nhau, để khỏi phiền phức và tốn thời gian.

Ojigi, như đã nói ở trên, là một nghi lễ rất quan trọng. Người Nhật Bản luôn tỏ ra nhã nhặn và lịch sự, các bạn có thể thấy là thậm chí trên những tấm bảng thông báo ở công trường, người ta cũng vẽ hình một chú công nhân đang hành lễ Ojigi.

Ojigi quan trọng như vậy, nên khi giao tiếp với người Nhật, bạn đừng quên các nguyên tắc mà Ichi đã chia sẻ nhé, chắc chắn sẽ gây được ấn tượng tốt với người Nhật đó.

Seijinshiki - Lễ thành nhân

Seijinshiki (成人式 – Thành Nhân Thức hay còn gọi là Lễ thành nhân) là một sự kiện quan trọng được tổ chức hàng năm của Nhật Bản. Nó là dịp lễ hội mỗi năm chỉ có một lần dành cho những thanh niên đã đến tuổi 20 ở Nhật. Trong ngày này, những bạn trẻ đã đủ 20 tuổi được công nhận là đã trưởng thành và kể từ lúc đó, họ có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân (như có quyền hút thuốc, uống rượu bia, có quyền bầu cử…)


Lễ thành nhân là một trong những quốc lễ của Nhật Bản, được tổ chức vào ngày thứ hai của tuần thứ hai trong tháng đầu tiên của một năm. Seijjinshiki có nguồn gốc từ một nghi thức cổ xưa của Nhật được gọi là Genpuku (元服). Đây thực chất là lễ trưởng thành dành cho các bé trai của những gia đình samurai quyền quý. Genpuku mới đầu không quy định rõ độ tuổi nào được coi là “trưởng thành” tuy nhiên từ thời kì Nara (710 – 794) đến thời kỳ Heian (794-1192) thì lễ được tổ chức cho những bé trai trong khoảng 13 đến 16 tuổi (lễ trưởng thành của các bé gái thời này được gọi là mogi cho các bé từ 12-14 tuổi).


Đến khoảng thế kỷ thứ 16, nó được đổi tên thành Genpukushiki. Trong buổi lễ ấy, nghi thức để xác nhận một người đã trưởng thành là cắt đi phần tóc ở trước trán của họ. Sau này, nghi thức được phổ biến tới cả những tầng lớp bình dân và nông dân cho đến tận cuối triều đại Edo. Genpukushiki được coi như là nghi thức bắt nguồn cho seijinshiki, tuy nhiên nghi thức lễ hội như hiện nay được bắt đầu từ năm 1948. Trong suốt một thời gian dài, ngày lễ thành nhân được quy định là ngày 15 tháng 1 và điều này đã được ghi cả trong Hiến pháp Nhật. Nhưng sau này nhằm mang lại những kỳ nghỉ dài hơn cho người dân, lễ hội được đổi lại thành ngày thứ hai đầu tiên của tuần thứ hai trong năm theo như hệ thống Thứ Hai Vui Vẻ. Nghĩa là năm 2009, nó rơi trúng vào ngày thứ 2 – 12/1 vừa qua.


Lễ thành nhân không chỉ dành cho những người đã đạt 20 tuổi khi ngày lễ được tổ chức mà thực chất những người sẽ bước sang tuổi 20 trong tháng 2, tháng 3 và tháng 4 tiếp đó cũng có thể tham dự buổi lễ.

Trong ngày này, những ai tham dự lễ hội đều sẽ khoác lên mình những bộ trang phục đẹp đẽ và sang trọng nhất bởi bạn chỉ có thể tham gia lễ hội này một lần trong đời.


Đối với các bạn nữ, họ sẽ làm tóc thật đẹp và khoác lên mình những bộ kimono furisode thật lộng lẫy. Bình thường, khi những cô gái Nhật đã đến tuổi trưởng thành, bố mẹ sẽ mua tặng họ một bộ kimono furisode để đánh dấu dấu mốc quan trọng này. Họ có thể sẽ được thừa hưởng những bộ kimono truyền thống của gia đình hoặc đơn giản hơn, họ có thể đi thuê.


Các bạn nam có thể mặc lễ phục (Haori và Hakama) tuy nhiên thường thì họ mặc vest và có thể đem theo cả bạn gái của mình cùng dự buổi lễ.


Lễ thành nhân được tổ chức tại các đền thờ hay những nhà hát, sân vận động lớn của từng vùng và cách tổ chức của mỗi vùng cũng có sự khác biệt nhất định.


Nhưng thông thường buổi lễ sẽ diễn ra vào buổi sáng, các nhà chức trách sẽ đọc diễn văn và sau đó họ sẽ tặng một món quà cho những người trưởng thành mà thường là một món tiền lì xì nho nhỏ.

Sau buổi lễ, những người trẻ tuổi tập trung lại thành những nhóm bạn và tổ chức tiệc tùng để kỷ niệm thời khắc trọng đại này.


Seijinshiki là một sự kiện truyền thống thật tuyệt vời và đầy ý nghĩa của Nhật Bản dành cho không chỉ những người đã đến tuổi trưởng thành mà còn cho chính gia đình của họ. Seijinshiki là một dịp để chúc mừng những người trưởng thành, đồng thời khuyến khích họ nhận ra rằng họ đã trở thành người lớn và đã đến lúc bắt đầu một cuộc sống tự lập. Bên cạnh đó nó cũng là một ngày lễ có ý nghĩa rất quan trọng đối với bản thân mỗi thanh niên Nhật Bản. Đó chính là cơ hội của họ để nói cho thế giới biết sự tới sự tồn tại độc lập của mình. Sau bao năm sống một cuộc sống phụ thuộc, được bao bọc bởi gia đình, đến trường và mặc những bộ đồng phục giống nhau, giờ đây họ đã trưởng thành cả về thể xác lẫn tinh thần và được thừa nhận là những công dân thực thụ của xã hội. Những công dân mới này đã có đủ tự tin cũng như tự do để là chính mình, để sống như mình mong muốn, và giờ họ cũng đã mang những quyền lợi và nghĩa vụ của riêng mình.